Tin tức trong nghành

Hà Nội: Hoàn thiện đồ án quy hoạch đô thị vệ tinh trong tháng 10

Email In PDF.

 UBND TP Hà Nội vừa có kết luận về đồ án quy hoạch chung xây dựng một số thị trấn, đô thị vệ tinh gồm Kim Bài, Thanh Oai, Quốc Oai, đô thị vệ tinh Sóc Sơn và thị trấn sinh thái Quốc Oai.

vtt10

Về quy hoạch huyện Thanh Oai và thị trấn Kim Bài, TP lưu ý rà soát các cụm công nghiệp làng nghề đảm bảo gắn kết với quy hoạch phát triển kinh tế và bổ sung các đường giao thông hướng kết nối với Thanh Trì.

Đối với quy hoạch đô thị vệ tinh Sóc Sơn, cần nghiên cứu xem xét lại việc kết nối đô thị này với tuyến đường cao tốc Quốc lộ 18 mới, đồng thời nghiên cứu xung quanh sân bay Nội Bài cần có ranh giới khu vực cách ly để giải phóng và thể hiện trong quy định quản lý quy hoạch.

TP yêu cầu Sở Quy hoạch và Kiến trúc hướng dẫn chủ đầu tư, đơn vị tư vấn, hoàn thiện hồ sơ đồ án quy hoạch, báo cáo UBND TP trong tháng 10/2013.

Theo quy hoạch, đô thị vệ tinh Sóc Sơn sẽ là 1 trong 5 đô thị vệ tinh của thành phố Hà Nội với diện tích hơn 5.300ha và 25 vạn dân (năm 2030). Đồ án quy hoạch đô thị Sóc Sơn đến năm 2030 nêu rõ tính chất của đô thị này là đô thị bảo tồn sinh thái, dịch vụ, phát triển công nghiệp sạch...

Nằm ở cửa ngõ phía tây của TP, huyện Quốc Oai được Viện Kiến trúc, quy hoạch đô thị và nông thôn (Bộ Xây dựng) xây dựng đồ án quy hoạch trở thành một địa phương vừa bảo tồn được không gian văn hóa với nhiều di tích lịch sử, đồng thời xây dựng thị trấn Quốc Oai thành một đô thị sinh thái hiện đại, có nền sản xuất nông nghiệp chất lượng cao.

Theo đồ án quy hoạch, huyện Thanh Oai hiện có diện tích 12.385 ha, dân số 17,4 vạn người. Theo quy hoạch, huyện Thanh Oai phát triển Vùng ven sông Đáy đến trục QL21 với điểm nhấn đô thị tại thị trấn Kim Bài. Tại đây sẽ phát triển 7 cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp làng nghề; tạo dựng hệ thống khu xanh sinh thái, cảnh quan - du lịch; khai thác hiệu quả trục Cienco 5 là trục động lực phát triển.

Sưu tầm

Bộ trưởng Đầu tư: 'Việt Nam đang mất dần lợi thế thu hút FDI'

Email In PDF.

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhìn nhận thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đang thua Thái Lan, Indonesia do mất dần lợi thế về nhân công, tài nguyên và chính sách ưu đãi.

 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn chiếm một phần tư trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, các doanh nghiệp FDI cũng là động lực chính góp phần gia tăng xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu. Điều này cho thấy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là sách lược quan trọng với Việt Nam. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến nay xuất hiện nhiều dự án FDI bị thu hồi, chậm tiến độ, dòng vốn FDI cũng bị chững lại.

Trong chương trình Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời tối 7/7, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh đã có những giải đáp cụ thể về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam hiện nay.

botrgdautu

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh. Ảnh: NAV.

- Nhật Bản vẫn là nhà đầu tư số một tại Việt Nam nhưng hiện đã đổ hàng tỷ USD vào Myanmar. Nhiều doanh nghiệp lớn khác của Nhật Bản cũng tuyên bố mở rộng nhiều cơ sở tại Thái Lan, Malaysia... trong khi các cơ sở của họ tại Việt Nam vẫn án binh bất động. Chẳng hạn Nhật Bản hiện có 7.000 doanh nghiệp ở Thái Lan nhưng ở Việt Nam mới có 1.500. Những ví dụ này nói lên điều gì về cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam, thưa Bộ trưởng?

- Thông tin về Nhật Bản có nhu cầu đầu tư hàng tỷ USD vào Myamar là không chính xác vì nước này mới tuyên bố mở cửa cách đây khoảng 7 tháng. Hiện nay, các quốc gia đều đang rất quan tâm đến Myanmar, trong đó có Nhật Bản nhưng họ cũng chưa đổ hàng tỷ USD vào đây mà mới chỉ trong giai đoạn nghiên cứu, thăm dò để có những dự án lớn.

Nhưng với thị trường Thái Lan và Indonesia thì là đúng. Đây là hai thị trường rất hấp dẫn trong khu vực châu Á và đã mở cửa trước Việt Nam rất nhiều. Thực tế, Thái Lan và Indonesia có môi trường thu hút đầu tư nước ngoài rất cạnh tranh, do đó, việc Nhật Bản có 7.000 doanh nghiệp đang đầu tư ở Thái Lan so với 1.500 doanh nghiệp ở Việt Nam thì cũng bình thường.

Trong những năm vừa qua, vốn FDI đăng ký của Việt Nam không giảm nhiều, nhưng nếu so với thời kỳ đỉnh cao 2009 thì thực sự là giảm mạnh. Vốn thực hiện thì không suy giảm nhiều. Có nhiều người không đồng tình với quan điểm này nhưng tôi có số liệu từ năm 2005 đến 2013, vốn FDI thực hiện bình quân ở 11 tỷ USD, 6 tháng đầu năm nay đã giải ngân được 5,7 tỷ USD, cao hơn nhiều cùng kỳ năm trước.

Hiện nay chúng ta đã khôn ngoan hơn, chính sách chặt chẽ hơn nên chênh lệch giữa vốn đăng ký và thực hiện đã thu hẹp lại. Đây là điều rất tốt. Tuy nhiên, so với các nước bên cạnh, chẳng ai đứng lại cũng như bị tụt hạng, tất cả đều đi lên và đi lên nhanh hơn.

Cách đây 20 năm, Việt Nam là mảnh đất màu mỡ cho đầu tư nước ngoài vì lao động rất rẻ, tài nguyên nhiều và ưu đãi lớn, thậm chí chúng ta bỏ tiền ra để giải phóng mặt bằng cho họ. Nhưng bây giờ những lợi thế đó dần mất đi và chúng ta phải thắt chặt lại, chọn những dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, ít ô nhiễm môi trường hơn, khiến thu hút FDI trở nên khó khăn. Trong khi đó, hạ tầng của Việt Nam không tốt, thủ tục hành chính chưa được cải thiện nhiều, dẫn đến môi trường của chúng ta giảm xuống.

Nhân công giá rẻ cũng không còn là lợi thế nữa vì kinh tế Việt Nam đã có tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tăng lên nên mức lương tối thiểu cũng tăng lên. Đây là điểm mà doanh nghiệp nước ngoài rất sợ.

So với tiến bộ của Thái Lan và Indonesia thì có thể Việt Nam có nhiều mặt hơn, nhưng thực sự chúng ta đang thua kém về tốc độ.

- Việt Nam đã ưu đãi các nhà đầu tư nước ngoài 20 năm và những chính sách ưu đãi sẽ còn phát huy đến khi nào?

- Sẽ còn ưu đãi trong thời gian rất dài vì không ưu đãi thì nhà đầu tư không vào, bởi họ tìm kiếm lợi nhuận, nước nào cũng như vậy, chỉ có điều là ưu đãi như thế nào. Chẳng hạn giai đoạn đầu trải thảm đỏ mở cửa những giờ thì không, Việt Nam chỉ ưu đãi những ngành tạo ra giá trị gia tăng cao, nói cách khác là vẫn phải ưu đãi nhưng ưu đãi thế nào cho hợp lý, tạo ra lợi ích cho quốc gia và lợi ích cho cả doanh nghiệp.

- Liên quan đến việc hàng loạt dự án đầu tư trực tiếp ngoài bị thu hồi do để hoang hóa, không đảm bảo tiến độ đã cam kết nhưng lại không có chủ đầu tư nào phải bồi thường, thậm chí để có đất sạch giao cho các chủ đầu tư thì hàng nghìn gia đình đã phải di dời. Theo Bộ trưởng, tại sao lại có tình trạng như vậy?

- Chế tài để phạt các doanh nghiệp này rất khó. Chúng tôi đã nghiên cứu thì không một nước nào trên thế giới có quy định phạt doanh nghiệp nước khác mà chỉ có chung chế tài là sẽ thu hồi nếu dự án chậm tiến độ. Hiện tôi đang học kinh nghiệm của thế giới để Việt Nam có cách làm khác đi.

Thứ nhất, về chủ trương tôi đồng ý rất nhanh chóng, không thẩm định quá lâu miễn là doanh nghiệp có dự án, tính toán hiệu quả, lúc đó có thể tạm cấp đất cho chủ đầu tư.

Sau 2 năm, nếu chủ đầu tư hoàn thành cơ bản tiến độ và chấp nhận được thì tôi sẽ kiểm tra lại và cấp phép thực tế. Căn cứ vào công nghệ của doanh nghiệp, lúc đó tôi mới cấp ưu đãi là doanh nghiệp công nghệ cao.

- Để tính toán hiệu quả thực sự của nguồn vốn FDI thì chúng ta cũng phải biết chi phí đã bỏ ra để thu hút những đồng vốn đó. Thưa Bộ trưởng, liệu có tỷ lệ gì để làm rõ việc này không, như để thu hút 1 USD đầu tư trực tiếp nước ngoài thì chúng ta phải bỏ ra bao nhiêu, ngoài ra còn chi phí để xúc tiến đầu tư, những ưu đãi thuế, tài nguyên đất và đầu tư cơ sở hạ tầng?

- Không ai có thể tính được và không một quốc gia nào có thể tính được. Nhưng theo tôi, từng dự án có thể xác định được mức bỏ ra và thu về. Chính từ so sánh này mà chính quyền địa phương và Chính phủ có thể quyết định dự án đó được thực hiện hay không thực hiện.

Nhưng tựu chung lại, lĩnh vực đầu tư nước ngoài đang chiếm tỷ trọng vô cùng quan trọng với kinh tế Việt Nam. Tổng mức đầu tư trực tiếp nước ngoài đang chiếm 1/4 vào tổng vốn đầu tư xã hội và có chất lượng cao. Trên 60% kim ngạch xuất khẩu đến từ lĩnh vực FDI, các doanh nghiệp này cũng tạo ra 2 triệu việc làm trực tiếp mà tới đây có thể tăng lên 3 triệu và mang đến cho Việt Nam công nghệ mới, cách quản lý và làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Điều này chúng ta không phủ nhận được.

Theo vnexpress

 

Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói về giải ngân chậm gói 30.000 tỷ đồng

Email In PDF.

 

“Đây là gói tín dụng trung hạn, nên không thể giải ngân nhanh gói 30.000 tỷ được, bởi người dân cũng cần phải có thời gian tìm hiểu, cân nhắc các lợi ích, khả năng tài chính, trả nợ…”, Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói.

Nói về gói tín dụng 30.000 tỷ, Bộ trưởng Dũng cho rằng, đây là gói cho vay đầu tư và thuê mua nhà ở xã hội và thương mại giá thấp cho cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người có thu nhập thấp...

botruongxd

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng

 “Đây là gói tín dụng trung hạn, nên không thể giải ngân nhanh gói 30.000 tỷ được, bởi người dân cũng cần phải có thời gian tìm hiểu, cân nhắc các lợi ích, khả năng tài chính, trả nợ…”, Bộ trưởng Dũng nhấn mạnh.

Bộ trưởng Dũng đề nghị các ngân hàng thương mại tạo điều kiện nhanh nhất cho người dân vay mua nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá thấp để tiếp cận dễ dàng với gói tín dụng này.

Hiện Bộ Xây dựng cũng đã có văn bản hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn người mua nhà được tiếp cận gói tín dụng này.

 “Thủ tục, điều kiện vay vốn hiện nay chỉ cần xác nhận của cơ quan, thay vì cả chính quyền như trước đây. Cùng với đó, Bộ cũng đã cụ thể hoá các tiêu chuẩn chuyển đổi nhà thương mại để người dân dễ dàng tiếp cận, dễ mua nhà hơn”, Bộ trưởng Dũng nói.

 Chỉ trong vòng 10 ngày triển khai việc cho vay gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng, Bộ Xây dựng đã phê duyệt danh sách hơn 10 doanh nghiệp được vay 9.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 30% của gói 30.000 tỷ).

 Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cũng cho biết, hiện tồn kho bất động sản lên tới 125.000 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 3/2013 tồn kho bất động sản còn tại 55/63 tỉnh thành, tương đương trên 125.000 tỷ đồng, trong đó tồn kho căn hộ chung cư khoảng 65.000 tỷ đồng, đất nền khoảng 60.000 tỷ đồng.

 Về nhu cầu nhà ở, Bộ trưởng cũng cho biết, đến năm 2020, hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM cần khoảng 200.000 căn hộ, trong đó khối cán bộ, công chức cần trên 30.000 căn.

 Giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản được Bộ trưởng nhấn mạnh là điều chỉnh cơ cấu các loại sản phẩm bất động sản để có thể đến được với người tiêu dùng, phù hợp với khả năng thanh toán của đại bộ phận người dân.

 (Sưu tầm)

 

Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói về giải ngân chậm gói 30.000 tỷ đồng

Email In PDF.

 

“Đây là gói tín dụng trung hạn, nên không thể giải ngân nhanh gói 30.000 tỷ được, bởi người dân cũng cần phải có thời gian tìm hiểu, cân nhắc các lợi ích, khả năng tài chính, trả nợ…”, Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói.

Nói về gói tín dụng 30.000 tỷ, Bộ trưởng Dũng cho rằng, đây là gói cho vay đầu tư và thuê mua nhà ở xã hội và thương mại giá thấp cho cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người có thu nhập thấp...

botruongxd

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng

 “Đây là gói tín dụng trung hạn, nên không thể giải ngân nhanh gói 30.000 tỷ được, bởi người dân cũng cần phải có thời gian tìm hiểu, cân nhắc các lợi ích, khả năng tài chính, trả nợ…”, Bộ trưởng Dũng nhấn mạnh.

Bộ trưởng Dũng đề nghị các ngân hàng thương mại tạo điều kiện nhanh nhất cho người dân vay mua nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá thấp để tiếp cận dễ dàng với gói tín dụng này.

Hiện Bộ Xây dựng cũng đã có văn bản hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn người mua nhà được tiếp cận gói tín dụng này.

 “Thủ tục, điều kiện vay vốn hiện nay chỉ cần xác nhận của cơ quan, thay vì cả chính quyền như trước đây. Cùng với đó, Bộ cũng đã cụ thể hoá các tiêu chuẩn chuyển đổi nhà thương mại để người dân dễ dàng tiếp cận, dễ mua nhà hơn”, Bộ trưởng Dũng nói.

 Chỉ trong vòng 10 ngày triển khai việc cho vay gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng, Bộ Xây dựng đã phê duyệt danh sách hơn 10 doanh nghiệp được vay 9.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 30% của gói 30.000 tỷ).

 Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cũng cho biết, hiện tồn kho bất động sản lên tới 125.000 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 3/2013 tồn kho bất động sản còn tại 55/63 tỉnh thành, tương đương trên 125.000 tỷ đồng, trong đó tồn kho căn hộ chung cư khoảng 65.000 tỷ đồng, đất nền khoảng 60.000 tỷ đồng.

 Về nhu cầu nhà ở, Bộ trưởng cũng cho biết, đến năm 2020, hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM cần khoảng 200.000 căn hộ, trong đó khối cán bộ, công chức cần trên 30.000 căn.

 Giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản được Bộ trưởng nhấn mạnh là điều chỉnh cơ cấu các loại sản phẩm bất động sản để có thể đến được với người tiêu dùng, phù hợp với khả năng thanh toán của đại bộ phận người dân.

 (Sưu tầm)

 

Trang 5 của 11

ĐỐI TÁC KINH DOANH

eurowindow-logologo agribanklogo vietcombankadv 38viglacera