Tin Tức - Sự Kiện

Bộ trưởng Đầu tư: 'Việt Nam đang mất dần lợi thế thu hút FDI'

Email In PDF.

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhìn nhận thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam đang thua Thái Lan, Indonesia do mất dần lợi thế về nhân công, tài nguyên và chính sách ưu đãi.

 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn chiếm một phần tư trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, các doanh nghiệp FDI cũng là động lực chính góp phần gia tăng xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu. Điều này cho thấy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là sách lược quan trọng với Việt Nam. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến nay xuất hiện nhiều dự án FDI bị thu hồi, chậm tiến độ, dòng vốn FDI cũng bị chững lại.

Trong chương trình Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời tối 7/7, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh đã có những giải đáp cụ thể về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam hiện nay.

botrgdautu

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh. Ảnh: NAV.

- Nhật Bản vẫn là nhà đầu tư số một tại Việt Nam nhưng hiện đã đổ hàng tỷ USD vào Myanmar. Nhiều doanh nghiệp lớn khác của Nhật Bản cũng tuyên bố mở rộng nhiều cơ sở tại Thái Lan, Malaysia... trong khi các cơ sở của họ tại Việt Nam vẫn án binh bất động. Chẳng hạn Nhật Bản hiện có 7.000 doanh nghiệp ở Thái Lan nhưng ở Việt Nam mới có 1.500. Những ví dụ này nói lên điều gì về cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam, thưa Bộ trưởng?

- Thông tin về Nhật Bản có nhu cầu đầu tư hàng tỷ USD vào Myamar là không chính xác vì nước này mới tuyên bố mở cửa cách đây khoảng 7 tháng. Hiện nay, các quốc gia đều đang rất quan tâm đến Myanmar, trong đó có Nhật Bản nhưng họ cũng chưa đổ hàng tỷ USD vào đây mà mới chỉ trong giai đoạn nghiên cứu, thăm dò để có những dự án lớn.

Nhưng với thị trường Thái Lan và Indonesia thì là đúng. Đây là hai thị trường rất hấp dẫn trong khu vực châu Á và đã mở cửa trước Việt Nam rất nhiều. Thực tế, Thái Lan và Indonesia có môi trường thu hút đầu tư nước ngoài rất cạnh tranh, do đó, việc Nhật Bản có 7.000 doanh nghiệp đang đầu tư ở Thái Lan so với 1.500 doanh nghiệp ở Việt Nam thì cũng bình thường.

Trong những năm vừa qua, vốn FDI đăng ký của Việt Nam không giảm nhiều, nhưng nếu so với thời kỳ đỉnh cao 2009 thì thực sự là giảm mạnh. Vốn thực hiện thì không suy giảm nhiều. Có nhiều người không đồng tình với quan điểm này nhưng tôi có số liệu từ năm 2005 đến 2013, vốn FDI thực hiện bình quân ở 11 tỷ USD, 6 tháng đầu năm nay đã giải ngân được 5,7 tỷ USD, cao hơn nhiều cùng kỳ năm trước.

Hiện nay chúng ta đã khôn ngoan hơn, chính sách chặt chẽ hơn nên chênh lệch giữa vốn đăng ký và thực hiện đã thu hẹp lại. Đây là điều rất tốt. Tuy nhiên, so với các nước bên cạnh, chẳng ai đứng lại cũng như bị tụt hạng, tất cả đều đi lên và đi lên nhanh hơn.

Cách đây 20 năm, Việt Nam là mảnh đất màu mỡ cho đầu tư nước ngoài vì lao động rất rẻ, tài nguyên nhiều và ưu đãi lớn, thậm chí chúng ta bỏ tiền ra để giải phóng mặt bằng cho họ. Nhưng bây giờ những lợi thế đó dần mất đi và chúng ta phải thắt chặt lại, chọn những dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, ít ô nhiễm môi trường hơn, khiến thu hút FDI trở nên khó khăn. Trong khi đó, hạ tầng của Việt Nam không tốt, thủ tục hành chính chưa được cải thiện nhiều, dẫn đến môi trường của chúng ta giảm xuống.

Nhân công giá rẻ cũng không còn là lợi thế nữa vì kinh tế Việt Nam đã có tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tăng lên nên mức lương tối thiểu cũng tăng lên. Đây là điểm mà doanh nghiệp nước ngoài rất sợ.

So với tiến bộ của Thái Lan và Indonesia thì có thể Việt Nam có nhiều mặt hơn, nhưng thực sự chúng ta đang thua kém về tốc độ.

- Việt Nam đã ưu đãi các nhà đầu tư nước ngoài 20 năm và những chính sách ưu đãi sẽ còn phát huy đến khi nào?

- Sẽ còn ưu đãi trong thời gian rất dài vì không ưu đãi thì nhà đầu tư không vào, bởi họ tìm kiếm lợi nhuận, nước nào cũng như vậy, chỉ có điều là ưu đãi như thế nào. Chẳng hạn giai đoạn đầu trải thảm đỏ mở cửa những giờ thì không, Việt Nam chỉ ưu đãi những ngành tạo ra giá trị gia tăng cao, nói cách khác là vẫn phải ưu đãi nhưng ưu đãi thế nào cho hợp lý, tạo ra lợi ích cho quốc gia và lợi ích cho cả doanh nghiệp.

- Liên quan đến việc hàng loạt dự án đầu tư trực tiếp ngoài bị thu hồi do để hoang hóa, không đảm bảo tiến độ đã cam kết nhưng lại không có chủ đầu tư nào phải bồi thường, thậm chí để có đất sạch giao cho các chủ đầu tư thì hàng nghìn gia đình đã phải di dời. Theo Bộ trưởng, tại sao lại có tình trạng như vậy?

- Chế tài để phạt các doanh nghiệp này rất khó. Chúng tôi đã nghiên cứu thì không một nước nào trên thế giới có quy định phạt doanh nghiệp nước khác mà chỉ có chung chế tài là sẽ thu hồi nếu dự án chậm tiến độ. Hiện tôi đang học kinh nghiệm của thế giới để Việt Nam có cách làm khác đi.

Thứ nhất, về chủ trương tôi đồng ý rất nhanh chóng, không thẩm định quá lâu miễn là doanh nghiệp có dự án, tính toán hiệu quả, lúc đó có thể tạm cấp đất cho chủ đầu tư.

Sau 2 năm, nếu chủ đầu tư hoàn thành cơ bản tiến độ và chấp nhận được thì tôi sẽ kiểm tra lại và cấp phép thực tế. Căn cứ vào công nghệ của doanh nghiệp, lúc đó tôi mới cấp ưu đãi là doanh nghiệp công nghệ cao.

- Để tính toán hiệu quả thực sự của nguồn vốn FDI thì chúng ta cũng phải biết chi phí đã bỏ ra để thu hút những đồng vốn đó. Thưa Bộ trưởng, liệu có tỷ lệ gì để làm rõ việc này không, như để thu hút 1 USD đầu tư trực tiếp nước ngoài thì chúng ta phải bỏ ra bao nhiêu, ngoài ra còn chi phí để xúc tiến đầu tư, những ưu đãi thuế, tài nguyên đất và đầu tư cơ sở hạ tầng?

- Không ai có thể tính được và không một quốc gia nào có thể tính được. Nhưng theo tôi, từng dự án có thể xác định được mức bỏ ra và thu về. Chính từ so sánh này mà chính quyền địa phương và Chính phủ có thể quyết định dự án đó được thực hiện hay không thực hiện.

Nhưng tựu chung lại, lĩnh vực đầu tư nước ngoài đang chiếm tỷ trọng vô cùng quan trọng với kinh tế Việt Nam. Tổng mức đầu tư trực tiếp nước ngoài đang chiếm 1/4 vào tổng vốn đầu tư xã hội và có chất lượng cao. Trên 60% kim ngạch xuất khẩu đến từ lĩnh vực FDI, các doanh nghiệp này cũng tạo ra 2 triệu việc làm trực tiếp mà tới đây có thể tăng lên 3 triệu và mang đến cho Việt Nam công nghệ mới, cách quản lý và làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Điều này chúng ta không phủ nhận được.

Theo vnexpress

 

NGƯỜI HÙNG - ĐÁM ĐÔNG - ĐỘI NGŨ & CÂU CHUYỆN “VĂN HÓA DOANH NGHIỆP”

Email In PDF.

nghg

Không phải quy chế, không phải kỷ luật, càng không phải là một ông chủ khó tính luôn xét nét, thúc ép nhân viên, nhưng lại có thể biến nhân viên, kể cả những người “cứng đầu”, trở thành những “công dân” tự giác làm việc hết mình, những “đại sứ” mang trong mình “màu cờ sắc áo”, “bản tính”, “bản sắc” của công ty. Công cụ đó chỉ có thể là Văn hóa doanh nghiệp (VHDN)!

 

Là lãnh đạo, đã bao giờ bạn tự vấn rằng mình đang “quản trị” hay “cai trị” doanh nghiệp (DN)? Đương nhiên, câu trả lời ai cũng muốn là “Quản trị”. Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cũng như chúng ta mong muốn! Chính công cụ bạn sử dụng trong quá trình quản lý, điều hành DN sẽ nói lên bạn là ai: “nhà quản trị” hay “kẻ cai trị”!

Dưới góc nhìn của quản trị kinh doanh hiện đại, nếu quản lý DN bằng quyền lực, mệnh lệnh thì gọi là “cai trị” còn dùng quy chế và văn hóa thì gọi là “quản trị”. Thực tế DN cho thấy mọi biện pháp cai trị, cho dù bằng mệnh lệnh, quy định hay bằng kiểm tra, kiểm soát hoặc thậm chí gây sức ép, đe dọa, đều chỉ có giá trị nhất thời, tạo ra một lớp “thần dân” chỉ biết làm việc theo mệnh lệnh, bằng mặt nhưng không bằng lòng. Ngược lại, nếu biết dùng “quy chế” và “văn hóa” thì người đứng đầu công ty sẽ biến “đám đông” thành một “đội ngũ”, một “lực lượng”, sẽ biến “nhân viên của công ty” thành “người của công ty”. Khi đó, mỗi nhân viên sẽ hiểu, chia sẻ hoài bão, sứ mệnh và giá trị của công ty, từ đó chung sức, chung lòng chiến đấu cho sự phát triển và trường tồn của công ty.

Rõ ràng “quản trị”, chứ không phải “cai trị”, là điều mà mọi lãnh đạo doanh nghiệp đều mong muốn hướng tới. Để có thể triển khai mô hình này thì phải cần tới nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là VHDN. Thêm nữa, một người đứng đầu doanh nghiệp sẽ là nhà quản trị (chứ không phải kẻ cai trị), nhà lãnh đạo (chứ không chỉ là sếp) khi ông ta thấm nhuần triết lý lãnh đạo, trong đó coi công việc của lãnh đạo là “TẠO RA NGƯỜI HÙNG chứ KHÔNG PHẢI TRỞ THÀNH NGƯỜI HÙNG”, là “kiến tạo ĐỘI NGŨ chứ không phải duy trì ĐÁM ĐÔNG”. Và công cụ không thể không dùng đến trong quá trình này chính là VHDN.

Như vậy, có thể kết luận rằng sẽ không thể có “quản trị” nếu lãnh đạo DN không có hiểu biết sâu sắc về VHDN.

Mỗi doanh nghiệp khác nhau sẽ có những bản tính và bản sắc khác nhau, có những chuẩn mực hành xử khác nhau, do đó sẽ có văn hóa khác nhau. Không có doanh nghiệp nào lại không có văn hóa, vấn đề là văn hóa kiểu gì mà thôi. Cũng như vậy, không có cái gọi là văn hóa tốt, văn hóa xấu mà chỉ có văn hóa phù hợp hay không phù hợp; góp phần thúc đẩy, phát triển hay kìm hãm, kéo lùi doanh nghiệp.

Vậy VHDN là gì? Xây dựng VHDN như thế nào? Kết quả của quá trình xây dựng VHDN là gì và đo lường ra sao? Làm sao để có thể kiến tạo một đội ngũ chung sức chung lòng chiến đấu cho sự phát triển và lớn mạnh của DN?...

Những câu hỏi hóc búa này luôn là những câu hỏi trăn trở và thường trực trong suy nghĩ của những vị thuyền trưởng trên mọi chặng đường phát triển của doanh nghiệp.

(Sưu tầm)

Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói về giải ngân chậm gói 30.000 tỷ đồng

Email In PDF.

 

“Đây là gói tín dụng trung hạn, nên không thể giải ngân nhanh gói 30.000 tỷ được, bởi người dân cũng cần phải có thời gian tìm hiểu, cân nhắc các lợi ích, khả năng tài chính, trả nợ…”, Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói.

Nói về gói tín dụng 30.000 tỷ, Bộ trưởng Dũng cho rằng, đây là gói cho vay đầu tư và thuê mua nhà ở xã hội và thương mại giá thấp cho cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người có thu nhập thấp...

botruongxd

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng

 “Đây là gói tín dụng trung hạn, nên không thể giải ngân nhanh gói 30.000 tỷ được, bởi người dân cũng cần phải có thời gian tìm hiểu, cân nhắc các lợi ích, khả năng tài chính, trả nợ…”, Bộ trưởng Dũng nhấn mạnh.

Bộ trưởng Dũng đề nghị các ngân hàng thương mại tạo điều kiện nhanh nhất cho người dân vay mua nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá thấp để tiếp cận dễ dàng với gói tín dụng này.

Hiện Bộ Xây dựng cũng đã có văn bản hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn người mua nhà được tiếp cận gói tín dụng này.

 “Thủ tục, điều kiện vay vốn hiện nay chỉ cần xác nhận của cơ quan, thay vì cả chính quyền như trước đây. Cùng với đó, Bộ cũng đã cụ thể hoá các tiêu chuẩn chuyển đổi nhà thương mại để người dân dễ dàng tiếp cận, dễ mua nhà hơn”, Bộ trưởng Dũng nói.

 Chỉ trong vòng 10 ngày triển khai việc cho vay gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng, Bộ Xây dựng đã phê duyệt danh sách hơn 10 doanh nghiệp được vay 9.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 30% của gói 30.000 tỷ).

 Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cũng cho biết, hiện tồn kho bất động sản lên tới 125.000 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 3/2013 tồn kho bất động sản còn tại 55/63 tỉnh thành, tương đương trên 125.000 tỷ đồng, trong đó tồn kho căn hộ chung cư khoảng 65.000 tỷ đồng, đất nền khoảng 60.000 tỷ đồng.

 Về nhu cầu nhà ở, Bộ trưởng cũng cho biết, đến năm 2020, hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM cần khoảng 200.000 căn hộ, trong đó khối cán bộ, công chức cần trên 30.000 căn.

 Giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản được Bộ trưởng nhấn mạnh là điều chỉnh cơ cấu các loại sản phẩm bất động sản để có thể đến được với người tiêu dùng, phù hợp với khả năng thanh toán của đại bộ phận người dân.

 (Sưu tầm)

 

Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói về giải ngân chậm gói 30.000 tỷ đồng

Email In PDF.

 

“Đây là gói tín dụng trung hạn, nên không thể giải ngân nhanh gói 30.000 tỷ được, bởi người dân cũng cần phải có thời gian tìm hiểu, cân nhắc các lợi ích, khả năng tài chính, trả nợ…”, Bộ trưởng Bộ Xây dựng nói.

Nói về gói tín dụng 30.000 tỷ, Bộ trưởng Dũng cho rằng, đây là gói cho vay đầu tư và thuê mua nhà ở xã hội và thương mại giá thấp cho cán bộ công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người có thu nhập thấp...

botruongxd

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng

 “Đây là gói tín dụng trung hạn, nên không thể giải ngân nhanh gói 30.000 tỷ được, bởi người dân cũng cần phải có thời gian tìm hiểu, cân nhắc các lợi ích, khả năng tài chính, trả nợ…”, Bộ trưởng Dũng nhấn mạnh.

Bộ trưởng Dũng đề nghị các ngân hàng thương mại tạo điều kiện nhanh nhất cho người dân vay mua nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá thấp để tiếp cận dễ dàng với gói tín dụng này.

Hiện Bộ Xây dựng cũng đã có văn bản hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn người mua nhà được tiếp cận gói tín dụng này.

 “Thủ tục, điều kiện vay vốn hiện nay chỉ cần xác nhận của cơ quan, thay vì cả chính quyền như trước đây. Cùng với đó, Bộ cũng đã cụ thể hoá các tiêu chuẩn chuyển đổi nhà thương mại để người dân dễ dàng tiếp cận, dễ mua nhà hơn”, Bộ trưởng Dũng nói.

 Chỉ trong vòng 10 ngày triển khai việc cho vay gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng, Bộ Xây dựng đã phê duyệt danh sách hơn 10 doanh nghiệp được vay 9.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 30% của gói 30.000 tỷ).

 Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cũng cho biết, hiện tồn kho bất động sản lên tới 125.000 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 3/2013 tồn kho bất động sản còn tại 55/63 tỉnh thành, tương đương trên 125.000 tỷ đồng, trong đó tồn kho căn hộ chung cư khoảng 65.000 tỷ đồng, đất nền khoảng 60.000 tỷ đồng.

 Về nhu cầu nhà ở, Bộ trưởng cũng cho biết, đến năm 2020, hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM cần khoảng 200.000 căn hộ, trong đó khối cán bộ, công chức cần trên 30.000 căn.

 Giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản được Bộ trưởng nhấn mạnh là điều chỉnh cơ cấu các loại sản phẩm bất động sản để có thể đến được với người tiêu dùng, phù hợp với khả năng thanh toán của đại bộ phận người dân.

 (Sưu tầm)

 

Văn hóa doanh nghiệp: Qúy như vàng

Email In PDF.

Ý nghĩa và lợi ích thiết thực của văn hoá doanh nghiệp trong thời đại hội nhập và phát triển toàn cầu là vô cùng cấp thiết. Một khi văn hóa chưa được coi là một yếu tố "sống - còn" để phát triển doanh nghiệp thì chúng ta chưa có một nền kinh tế phát triển, một xã hội văn minh.

vhdnqnv

VHDN là tài sản vô hình quý hơn cả vốn (ảnh minh họa)

Văn hóa doanh nghiệp tạo nên sức cạnh tranh

Không phải ngẫu nhiên mà chương trình MBA của Đại học Harvard đã cho ra đời một tấm thẻ lời thề đạo đức kinh doanh. Người làm chủ tấm thẻ phải nói không với những điều làm lợi cho mình mà không lợi cho xã hội.

Thạc sĩ tâm lý Nguyễn Công Vinh - Cố vấn chiến lược Công ty Ứng dụng Tâm lý Hồn Việt -  Vietnam Insight cho rằng: "Doanh nhân là người làm kinh doanh. Người làm kinh doanh khác với con buôn. Họ không chỉ làm giàu cho bản thân mà phải có trách nhiệm với xã hội. Chính điều đó mới làm nên giá trị bền vững trong kinh doanh, làm nên lợi nhuận bền vững cho doanh nghiệp".

Văn hoá doanh nghiệp không phải là cái gì cao siêu, xa vời. PGS, TS Đinh Ngọc Vượng - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam chia sẻ: "Tại một cửa hàng quần áo, một khách hàng bị chủ hàng túm tóc, nắm chặt tay không cho đi vì chưa "mở hàng", "mặc cả rồi thì phải lấy". Hoá ra, giá của chiếc áo nói thách 300.000đ, khách trả 100.000đ. Khách bị ép mua, không mua thì bị chửi. Đó là chuyện không hiếm ở các cửa hàng tại Hà Nội và rất phi văn hóa".

Ông Vinh lo ngại: "Không ít các tiểu thương ấy đã lập công ty, trở thành chủ doanh nghiệp. Cái văn hoá tiểu thương mặc nhiên chuyển hoá vào văn hoá doanh nhân, văn hoá doanh nghiệp."

Ông Vinh lại đưa ra một ví dụ trái ngược hoàn toàn tại một nước Bắc Âu. Đoàn cán bộ Việt Nam đi công tác ở nước này năm 1985, thời điểm mà Việt Nam vẫn còn cơ chế bao cấp. Thời đó, để có được một chiếc máy cassette là chuyện không đơn giản chút nào. Ba người cùng nhau đi mua máy cassette hai cửa băng, người thứ tư thì mua được một chiếc 1 cửa băng. Về khách sạn nghĩ đi nghĩ lại thấy máy không tiện dụng nên người mua máy 1 cửa băng đem đi đổi. Tuy nhiên, ông này vào nhầm cửa hàng. Cửa hàng này không bán máy một cửa băng nên nhân viên bán hàng không đổi và bảo ông ta vào nhầm cửa hàng. Ông khách hàng quát lên là ông ta không nhầm làm những người khách xung quanh ngơ ngác. Ông chủ cửa hàng đã kịp thời can thiệp bằng cách nhận chiếc máy và hoàn cho ông khách số tiền rồi nói rằng cửa hàng bên cạnh mới bán loại máy mà ông khách cần. Đó chính là những ứng xử làm nên văn hoá doanh nghiệp.

Ông Võ Văn Quang - Chuyên gia thương hiệu cho rằng, văn hoá doanh nghiệp không chỉ là những giá trị trìu tượng mà còn là những lợi ích thiết thực thể hiện ở chất lượng sản phẩm. Ông đưa ra các doanh nghiệp đã xây dựng được văn hoá doanh nghiệp, đưa văn hoá trở thành thương hiệu, thành sức mạnh cạnh tranh, quý hơn cả vốn như Hãng taxi Mai Linh: Mỗi cá nhân là một sứ giả thương hiệu, với đồng phục màu xanh (do xuất thân của những người lập ra doanh nghiệp là những người lính), cách giao tiếp, phong cách phục vụ khách hàng... Bên cạnh đó, nhiều tên tuổi khác cũng cho thấy văn hoá doanh nghiệp làm nên thương hiệu như Heineken; Viettel; Bitis; Diana...

Xây dựng văn hoá doanh nghiệp từ văn hóa ứng xử

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc: "Có muôn hình vạn trạng cách định nghĩa văn hóa doanh nghiệp, nhưng thực chất, xét đến cùng thì đó là cách ứng xử của con người đối với tự nhiên và với con người để thúc đẩy sự tiến bộ".

Như vậy, cốt lõi của văn hoá doanh nghiệp chính là ứng xử của doanh nghiệp, doanh nhân trong xã hội. Ông Nguyễn Công Vinh cho rằng: "Văn hoá doanh nghiệp không phải là Thuật mà là Tâm. Văn hoá phải xuất phát từ cái Tâm. Thuật chỉ giúp hiện thực hoá cái Tâm một cách cao nhất. Không phải văn hoá là dùng miệng lưỡi xoa dịu người lao động rồi đằng sau thì thò tay rút bớt tiền lương thưởng của người lao động. Muốn xây dựng được văn hoá doanh nghiệp phải giải quyết hài hoà các lợi ích, lợi ích người lao động, doanh nghiệp và khách hàng".

Ông Vinh cũng nhấn mạnh: "Bắt đầu xây dựng văn hoá doanh nghiệp từ xây dựng con người trong nội bộ doanh nghiệp".

Cùng quan điểm này, PGS, TS Đinh Ngọc Vượng cho rằng: "Muốn có văn hoá doanh nghiệp thì doanh nhân cần có nhiều phẩm chất, có văn hoá nói chung, có văn hoá pháp luật, ý thức pháp luật vì chính pháp luật là chuẩn mực của hành vi được xây dựng trên nền tảng đạo đức".

Theo TS Trần Văn Miều, các giải pháp để xây dựng văn hoá doanh nghiệp ở nước ta là phải lấy văn hoá ứng xử làm nền tảng. Trong đó gồm có ứng xử của lãnh đạo với người lao động và ngược lại; ứng xử của cán bộ và người lao động với pháp luật và kỷ cương, kỷ luật của doanh nghiệp; tạo môi trường làm việc thân thiện, hoà đồng, hợp tác và tạo môi trường thân thiện với khách hàng".

Đưa ra những tiêu chí để đánh giá về văn hoá doanh nghiệp, TS Trần Văn Miều cho rằng cần xây dựng một bộ tiêu chí để đánh giá. Bộ tiêu chí sẽ là thước đo chung để doanh nghiệp và người lao động soi vào đó và phấn đấu.

Ý nghĩa và lợi ích thiết thực của văn hoá doanh nghiệp trong thời đại hội nhập và phát triển toàn cầu là vô cùng cấp thiết. Một khi văn hóa chưa được coi là một yếu tố "sống - còn" để phát triển doanh nghiệp thì chúng ta chưa có một nền kinh tế phát triển, một xã hội văn minh.

Văn hoá doanh nghiệp - trách nhiệm không của riêng nhà lãnh đạo

(Sưu tầm)

Trang 6 của 13

ĐỐI TÁC KINH DOANH

eurowindow-logologo agribanklogo vietcombankadv 38viglacera